Một số bất cập trong yêu cầu về giấy phép lao động cho người nước ngoài

Giấy phép lao động là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với người nước ngoài có nhu cầu công tác tại Việt Nam. Tuy nhiên, thủ tục thực hiện xin giấy phép lao động chưa bao giờ là dễ dàng. Thậm chí, một số yêu cầu của nó còn gây ra khá nhiều bất cập cho người chuẩn bị hồ sơ. Trong bài viết này, Gia Hợp sẽ làm rõ một số vấn đề liên quan đến thủ tục giấy phép lao động cho các đối tượng. Hãy theo dõi bài viết và có cho mình những kiến thức hữu ích!

Các khái niệm Nhà quản lý và Giám đốc Điều hành trong giấy phép lao động

giấy phép lao động nhà quản lý, giám đốc điều hành

Bất cập đầu tiên phải kể đến là sự thay đổi về khái niệm nhà quản lý và giám đốc điều hành. Nếu như trước đây, hai khái niệm nhà quản lý và giám đốc điều hành được gộp chung thành một đối tượng trong giấy phép lao động; thì kể từ năm 2016, khi nghị định có sự thay đổi, hai đối tượng này bị tách riêng, mỗi đối tượng lại có những yêu cầu và điều kiện khác nhau về giấy phép lao động. 

Trước đây, khi hai khái niệm này còn được gộp chung thành một đối tượng, thì nhà quản lý và giám đốc điều hành được quy định chung là người trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp, tổ chức, bao gồm các công việc như chỉ đạo tổ chức, doanh nghiệp, giám sát và kiểm soát công việc của các cá nhân là nhân viên chuyên môn, nhân viên quản lý hoặc nhân viên giám sát khác trong công ty. Tuy nhiên, kể từ nghị định năm 2016 được ban hành, hai khái niệm này không còn được dùng chung thì yêu cầu về nhà quản lý lại được quy định rõ hơn. Theo đó, nhà quản lý là các cá nhân có nhiệm vụ quản lý, có thẩm quyền nhân danh và đại diện công ty để ký kết các giao dịch với bên ngoài được quy định tại điều lệ công ty. Nói cách khác, các cá nhân sẽ không được xem là nhà quản lý nếu họ không phải là đại diện pháp lý của công ty.

Sự thay đổi này khiến cho các vị trí giám đốc bộ phận của công ty (như giám đốc tài chính, giám đốc nhân sự,…) không thể xin giấy phép lao động theo nhóm nhà quản lý, giám đốc điều hành, bởi các vị trí này thường không được ghi tên trong điều lệ công ty. Để được hợp pháp làm việc tại Việt Nam, thì người nước ngoài làm việc tại các vị trí này phải xin giấy phép lao động theo nhóm chuyên gia. Tuy nhiên, trên thực tế, lĩnh vực và chức năng hoạt động cũng không thực sự tương đồng với đối tượng này. Ngoài ra, họ còn phải đáp ứng các điều kiện khác về trình độ, bằng cấp và kinh nghiệm làm việc dành cho nhóm chuyên gia. Việc không rõ ràng trong các quy định về nhà quản lý và doanh nghiệp đã gây ra không ít khó khăn trong quá trình xin giấy phép lao động cho nhiều đối tượng.

>>> Tham khảo bài viết: Một số trường hợp đặc biệt khi làm giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Việt Nam

Yêu cầu với nhóm Chuyên gia, Lao động kỹ thuật 

Trước đây, điều kiện để người nước ngoài được xem là chuyên gia và lao động kỹ thuật khá đơn giản khi chỉ cần đáp ứng một trong hai yêu cầu: hoặc trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm làm việc. Nói cách khác, người nước ngoài chỉ cần đưa ra văn bản chứng minh mình được đào tạo về trình độ chuyên môn hoặc có kinh nghiệm làm việc phù hợp với vị trí dự kiến đảm nhận tại Việt Nam. Tuy nhiên, cũng kể từ nghị quyết năm 2016, điều kiện đối với nhóm chuyên gia và lao động kỹ thuật dường như có khăn lên gấp đôi khi đề ra yêu cầu kép, tức là người nước ngoài phải đáp ứng được cả yêu cầu về trình độ đào tạo chuyên môn, vừa phải có đủ số năm kinh nghiệm hành nghề.

Mặc dù yêu cầu này giúp chọn lọc kỹ càng và nâng cao chất lượng người lao động đến làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, rất nhiều người nước ngoài có đủ kỹ năng hành nghề, vì không đáp ứng đủ điều kiện, nên không thể đến Việt Nam làm việc.

giấy phép lao động kỹ thuật

Yêu cầu khi xin giấy phép lao động đối với hình thức di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp

Theo quy định, trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức di chuyển nội bộ, thì khi làm hồ sơ xin giấy phép lao động phải bổ sung thêm thư bổ nhiệm văn bản chứng minh đã làm việc tại doanh nghiệp mẹ ở nước ngoài trước đó ít nhất 01 năm. Tuy nhiên, quy định này có phần bất cập đối với trường hợp người lao động làm nước ngoài làm việc cho tập đoàn, doanh nghiệp đa quốc gia, khi mà nơi họ làm việc cũng không phải là trụ sở chính mà chỉ là hiện diện thương mại khác thuộc quản lý của công ty mẹ. Kể cả khi họ đến doanh nghiệp mẹ (ở một quốc gia khác) để xin thư bổ nhiệm và giấy xác nhận kinh nghiệm làm việc thì vẫn không được chấp thuận bởi các cơ quan cấp phép (như Sở Lao động – Thương binh và xã hội, Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất,…) không chấp nhận kinh nghiệm làm việc của người thuộc các chi nhánh con trực thuộc tập đoàn, mà chỉ nhận từ công trụ sở chính trực tiếp sở hữu hiện diện thương mại tại Việt Nam.

Để có thể xin giấy phép lao động trong các trường hợp trên, người nước ngoài phải thực hiện theo hình thức hợp đồng lao động.

Như vậy, mặc dù đã trải qua nhiều lần điều chỉnh, song yêu cầu về thủ tục cấp giấy phép lao động vẫn còn một số bất cập chưa thể giải quyết. Cần lắm những quy định rõ ràng hơn để người nước ngoài được tạo điều kiện tối đa khi nhập cảnh vào làm việc tại Việt Nam.

Bài viết cùng chủ đề:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.